Tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng năm 2025
- 03/11/2025 15:34
Tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng năm 2025
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LUẬT THỐNG KÊ
- 20/10/2025 14:11
1.Tờ trình Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê2.Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê3.Bản so sánh, thuyết minh dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê với Luật Thống kê số 89/2015/QH134.Dự thảo báo cáo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê5.Danh mục câu hỏi liên quan đến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê
Big Data – Nền tảng đổi mới trong hoạt động thống kê hiện đại của Cục Thống kê, Bộ Tài chính
- 15/10/2025 17:05
Trong tiến trình chuyển đổi số của Bộ Tài chính, Cục Thống kê đang nổi lên như một đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) nhằm hiện đại hóa công tác thống kê và nâng cao hiệu quả quản lý thông tin kinh tế – xã hội. Việc ứng dụng Big Data không chỉ thay đổi phương thức thu thập và xử lý số liệu, mà còn mở ra hướng đi mới trong phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.Trước đây, hoạt động thống kê chủ yếu dựa trên phương pháp thủ công – thu thập, tổng hợp và báo cáo định kỳ. Giờ đây, với Big Data, Cục Thống kê đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình thống kê hiện đại, nơi dữ liệu được cập nhật liên tục, phân tích tự động và khai thác theo thời gian thực. Hệ thống công nghệ mới giúp rút ngắn thời gian điều tra, tăng độ chính xác của thông tin và giảm sai lệch trong quá trình tổng hợp.Nền tảng dữ liệu thống kê quốc gia đang được Cục Thống kê xây dựng theo hướng tích hợp, mở và thông minh. Hồ dữ liệu (data lake) được xem là trung tâm của hệ thống này – nơi lưu trữ và xử lý dữ liệu thô ở quy mô lớn, phục vụ nhiều mục đích phân tích khác nhau. Dữ liệu không chỉ đến từ điều tra truyền thống mà còn từ các nguồn hành chính, doanh nghiệp và nền tảng số. Khi kết hợp cùng các công cụ phân tích dữ liệu tiên tiến, hệ thống cho phép phát hiện xu hướng, mô hình hóa hành vi kinh tế và hỗ trợ ra quyết định chính sách dựa trên bằng chứng.Để vận hành hệ thống dữ liệu lớn, Cục Thống kê đã chú trọng đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, bảo đảm tốc độ, an toàn và khả năng mở rộng. Các máy chủ, tường lửa, thiết bị mạng được nâng cấp đồng bộ, mạng truyền dữ liệu tốc độ cao kết nối thông suốt với các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính. Cùng với đó, hệ thống lưu trữ và chia sẻ dữ liệu nội bộ được cải tiến theo hướng điện toán đám mây, giúp cán bộ thống kê có thể truy cập và làm việc trực tuyến, giảm phụ thuộc vào quy trình giấy tờ truyền thống.Song song với việc phát triển công nghệ, công tác đảm bảo an toàn và bảo mật dữ liệu được coi là ưu tiên hàng đầu. Cục Thống kê đã ban hành kế hoạch triển khai các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, thành lập tổ chuyên trách về an toàn thông tin và tổ chức các lớp tập huấn, diễn tập an ninh mạng định kỳ. Mục tiêu là đảm bảo dữ liệu thống kê – vốn chứa nhiều thông tin nhạy cảm về kinh tế, xã hội – luôn được bảo vệ tuyệt đối, đồng thời tuân thủ nghiêm quy định pháp luật và tiêu chuẩn quốc tế.Yếu tố con người cũng được đặc biệt chú trọng. Hàng trăm cán bộ, công chức trong ngành đã tham gia các khóa học về chuyển đổi số, an toàn thông tin và phân tích dữ liệu. Việc đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng sử dụng công nghệ, mà còn hướng đến thay đổi tư duy làm việc – từ “thu thập và báo cáo” sang “phân tích và dự báo”. Đây là bước chuyển quan trọng để xây dựng đội ngũ thống kê chuyên nghiệp, thích ứng với môi trường dữ liệu lớn.Tuy vậy, việc triển khai Big Data trong thống kê cũng đặt ra không ít thách thức. Nguồn lực nhân sự còn hạn chế trong khi khối lượng công việc và dữ liệu ngày càng tăng. Sự phối hợp giữa các đơn vị vẫn cần được cải thiện để đảm bảo tiến độ và tính đồng bộ. Bên cạnh đó, việc cập nhật yêu cầu, thay đổi trong quá trình phát triển hệ thống đôi khi khiến việc quản lý tiến độ gặp khó khăn. Để khắc phục, Cục Thống kê đang xây dựng quy trình làm việc linh hoạt hơn, ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm theo từng giai đoạn, đồng thời tăng cường phối hợp nội bộ và kết nối với các cơ quan, đơn vị liên quan.Có thể nói, Big Data đang trở thành động lực cốt lõi giúp Cục Thống kê hiện đại hóa toàn diện quy trình thống kê nhà nước. Khi dữ liệu được xử lý và phân tích theo thời gian thực, cơ quan thống kê không chỉ dừng ở việc ghi nhận con số quá khứ mà còn đóng vai trò cung cấp thông tin chiến lược, hỗ trợ hoạch định chính sách, dự báo xu hướng và quản trị rủi ro kinh tế.Việc ứng dụng Big Data không chỉ giúp nâng cao chất lượng thông tin thống kê mà còn góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành Tài chính, hướng tới một nền quản trị dữ liệu hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Với định hướng đúng đắn và quyết tâm đổi mới, Cục Thống kê đang từng bước khẳng định vị thế là trung tâm dữ liệu chiến lược của Bộ Tài chính – nơi dữ liệu được biến thành tri thức, và tri thức được chuyển hóa thành hành động phục vụ phát triển bền vững đất nước.
Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu tỉnh Ninh Bình 2020-2025
- 07/10/2025 14:19
Một số chỉ tiêu KT-XH chủ yếu tỉnh Ninh Bình 2020-2025https://ebook.nhaxuatbanthongke.vn/37569353-e089-4976-a6f4-3e1e02f27a6b/index.html#p=1
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2025
- 03/10/2025 08:11
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2025
Thống kê tỉnh Ninh Bình tổ chức Hội nghị triển khai Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026
- 26/09/2025 14:34
Hội nghị triển khai Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và hướng dẫn nghiệp vụ phiếu thu thập thông tin lập bảng kê cơ sở SXKD cá thể. Sáng 26/9/2025, Thống kê tỉnh Ninh Bình đã tổ chức Hội nghị triển khai phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và hướng dẫn nghiệp vụ Phiếu thu thập thông tin lập bảng kê cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (Hội nghị cấp tỉnh). Dự Hội nghị có Lãnh đạo Thống kê tỉnh; Lãnh đạo và công chức các phòng nghiệp vụ; Trưởng phòng TCHC, Kế toán trưởng, Đại diện Lãnh đạo và 01 công chức Thống kê cơ sở. Tại Hội nghị, các học viên đã được nghe giới thiệu Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026; Quy trình lập bảng kê cơ sở sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Hướng dẫn cách ghi phiếu bảng kê cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể; Hướng dẫn xác định và kiểm tra mã ngành; Hướng dẫn rà soát, cập nhật danh sách đơn vị điều tra; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; tổ hợp tác; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; hiệp hội; Hướng dẫn sử dụng và thực hành trang Web điều hành chung Tổng điều tra; Thực hành sử dụng CAPI thu thập thông tin phiếu bảng kê cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể. Tổng điều tra kinh tế năm 2026 nhằm thu thập thông tin toàn diện đánh giá sự phát triển về số lượng, quy mô và lao động của các cơ sở kinh tế; kết quả sản xuất kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; cơ cấu, phân bố của các cơ sở và lao động theo địa phương, ngành kinh tế, loại hình kinh tế và theo hình thức sở hữu nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương.Công tác lập bảng kê là một trong những công đoạn quan trọng có ý nghĩa then chốt, đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ cuộc Tổng điều tra, giúp bảo đảm việc lập danh sách chính xác các đơn vị điều tra. Chất lượng của bảng kê quyết định đến tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu thu thập. Thông qua Hội nghị sẽ giúp trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, quy trình lập bảng kê nhằm bảo đảm thực hiện đúng Phương án Tổng điều tra, nhận diện đúng đơn vị điều tra và nâng cao chất lượng số liệu thu thập được.Theo kế hoạch, cuộc Tổng điều tra sẽ diễn ra trong hai giai đoạn trong năm 2026. Giai đoạn thứ nhất được thực hiện từ ngày 5/1 đến 31/3/2026, tập trung vào các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản, tổ hợp tác và cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Giai đoạn thứ hai diễn ra từ ngày 1/4 đến 31/7/2026, dành cho các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hội, hiệp hội, cũng như chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp và tổ chức nước ngoài. Kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dự kiến sẽ được công bố vào quý I/2027, trong khi báo cáo chính thức sẽ được công bố vào quý III cùng năm. (Đồng chí Lê Mạnh Hồng, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc Hội nghị triển khai Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và hướng dẫn nghiệp vụ Phiếu thu thập thông tin lập bảng kê cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Ninh Bình)Tin, ảnh: Hồng Nhung
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025
- 03/09/2025 14:22
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2025
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2025
- 03/08/2025 14:20
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2025
TÍN HIỆU TÍCH CỰC CỦA HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRONG 2 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
- 12/03/2024 12:31
Tiếp nối đà tăng trưởng tích cực của năm 2023 và triển vọng thu hút đầu tư năm 2024, hoạt động đăng ký kinh doanh những tháng đầu năm diễn ra sôi động mặc dù bức tranh kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Hơn 41,1 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường trong 2 tháng đầu năm nay, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, là tín hiệu tích cực để hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024.Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mớiTrong 2 tháng đầu năm 2024, số doanh nghiệp thành lập mới tăng cả về số lượng, vốn đăng ký và số lao động so với cùng kỳ năm trước. Cả nước có hơn 22,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 218,7 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 154,3 nghìn lao động (tăng 12,4% về số doanh nghiệp, tăng 32,8% về vốn đăng ký và tăng 29% về số lao động so với cùng kỳ năm 2023).Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đầu năm 2024 đạt 9,9 tỷ đồng, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2023; tổng số vốn đăng ký đã quay trở lại mức trên 200 nghìn tỷ đồng của giai đoạn 2019-2022, đạt 218,7 nghìn tỷ đồng. Nếu tính cả 300,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 6.331 doanh nghiệp tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong hai tháng đầu năm 2024 là 519,6 nghìn tỷ đồng, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước.Phân theo ngành kinh tế, số lượng doanh nghiệp thành lập mới 2 tháng đầu năm 2024 của 12 ngành trong số 17 ngành tăng so với cùng kỳ năm 2023, cụ thể: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (tăng 19,2%); Khai khoáng (tăng 28,8%); Công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 17,4%); Xây dựng (tăng 6,8%); Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (tăng 20,2%); Vận tải kho bãi (tăng 26,5%); Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (tăng 2,9%); Hoạt động kinh doanh bất động sản (tăng 0,4%); Giáo dục và đào tạo (tăng 16,3%); Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (tăng 19,4%); Hoạt động dịch vụ khác (tăng 21,5%); Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (tăng 2,5%).Ở chiều ngược lại, các ngành ghi nhận số lượng doanh nghiệp thành lập giảm so với cùng kỳ năm 2023, cụ thể: Sản xuất phân phối, điện, nước, gas (giảm 0,7%); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 8,7%); Thông tin và truyền thông (giảm 0,9%); Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác (giảm 0,4%); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (giảm 5,9%).Theo vùng kinh tế – xã hội, có 5/6 vùng có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm 2023: Đồng bằng sông Hồng (6.678 doanh nghiệp, tăng 9,9%); Trung du và miền núi phía Bắc (1.199 doanh nghiệp, tăng 23,5%); Tây Nguyên (629 doanh nghiệp, tăng 24,6%); Đông Nam Bộ (9.513 doanh nghiệp, tăng 16,8%); Đồng bằng sông Cửu Long (1.677 doanh nghiệp, tăng 8,4%). Riêng vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung ghi nhận số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm 2023 (2.432 doanh nghiệp, giảm 0,2%).Tình hình doanh nghiệp quay trở lại hoạt độngBên cạnh đó, cả nước có gần 19 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2023), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong hai tháng đầu năm 2024 lên gần 41,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có hơn 20,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.Theo ngành kinh tế, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng ở 11/17 ngành, cụ thể: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (271 doanh nghiệp; tăng 11,5%); Công nghiệp chế biến, chế tạo (2.210 doanh nghiệp, tăng 14,4%); Sản xuất phân phối, điện, nước, gas (320 doanh nghiệp, tăng 5,3%); Xây dựng (2.291 doanh nghiệp; tăng 1,5%); Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy (6.856 doanh nghiệp, tăng 1,1%); Vận tải kho bãi (880 doanh nghiệp, tăng 2,8%); Thông tin và truyền thông (449 doanh nghiệp, tăng 19,7%); Hoạt động kinh doanh bất động sản (843 doanh nghiệp, tăng 38,7%); Khoa học, công nghệ; dịch vụ tư vấn, thiết kế; quảng cáo và chuyên môn khác (1.449 doanh nghiệp, tăng 12,0%); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (85 doanh nghiệp, tăng 10,4%); Hoạt động dịch vụ khác (576 doanh nghiệp, tăng 9,1%). Các lĩnh vực còn lại ghi nhận số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm, cụ thể: Khai khoáng (101 doanh nghiệp, giảm 21,1%); Dịch vụ lưu trú và ăn uống (931 doanh nghiệp, giảm 3,5%); Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (163 doanh nghiệp, giảm 2,4%); Giáo dục và đào tạo (485 doanh nghiệp, giảm 8,1%); Nghệ thuật, vui chơi và giải trí (161 doanh nghiệp, giảm 5,3%); Dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (898 doanh nghiệp, giảm 6,9%).Tình hình doanh nghiệp gia nhập thị trường 2 tháng đầu năm giai đoạn 2020 – 2024Để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhanh, bền vững, tạo động lực quan trọng phát triển kinh tế xã hội đất nước trong thời gian tới thì cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên, trong đó tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp trọng tâm sau:– Tháo gỡ bất cập pháp lý trong thực hiện dự án đầu tư: chủ động và khẩn trương tháo gỡ triệt để các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác nhau của các quy định pháp luật.– Nâng cao chất lượng cải cách danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh: nghiên cứu, rà soát ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; đưa ra khỏi danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với những ngành nghề có thể áp dụng các biện pháp quản lý khác hiệu quả hơn và bãi bỏ các điều kiện kinh doanh theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Tăng cường công tác thông tin, chia sẻ dữ liệu đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, dễ tra cứu, dễ hiểu và dễ tiếp cận của hệ thống pháp luật.– Tăng khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn cho doanh nghiệp: tiếp tục thực hiện các giải pháp hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng. Tháo gỡ các vướng mắc về hoàn thuế giá trị gia tăng; giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng kịp thời cho doanh nghiệp, người nộp thuế đảm bảo đúng đối tượng, chính sách, quy định. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để tăng khả năng tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.– Thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững.– Nâng cao chất lượng các dịch vụ phát triển kinh doanh như hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; chú trọng giải pháp tư vấn, đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp với các nội dung tái cấu trúc doanh nghiệp, tài chính, nhân sự, thị trường, quản trị rủi ro, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tham gia chuỗi giá trị bền vững, thủ tục hành chính,… Đa dạng hóa và phát triển hiệu quả hệ thống dịch vụ phát triển kinh doanh, vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, cơ sở kỹ thuật dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.– Triển khai sâu rộng các hoạt động cung cấp thông tin, kết nối, mở rộng thị trường cho doanh nghiệp trong nước. Tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại đến các thị trường xuất khẩu, hỗ trợ hàng hóa trong nước tiếp cận mạng lưới hệ thống bán lẻ tại nước ngoài.– Cập nhật, tuyên truyền, phổ biến về các hàng rào kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại trong thương mại quốc tế; hỗ trợ doanh nghiệp chủ động nắm bắt, ứng phó kịp thời với các vụ việc phòng vệ thương mại do nước ngoài điều tra đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.– Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành hàng; thị trường; quy định, tiêu chuẩn, điều kiện nhập khẩu của các nước và các cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do và các cam kết quốc tế khác.
HỢP TÁC THÚC ĐẨY SẢN XUẤT CÀ PHÊ BỀN VỮNG
- 12/03/2024 12:29
Vừa qua, Công ty CP Bình Điền-MeKong (đơn vị thành viên của Công ty CP Phân bón Bình Điền) và Tổng Công ty Cà phê Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác thúc đẩy phát triển sản xuất cà phê hiệu quả, cải thiện chất lượng và giá trị hạt cà phê Việt Nam theo hướng bền vững, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường.Lễ ký kết hợp tác giữa Công ty CP Bình Điền-MeKong và Tổng Công ty Cà phê Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất cà phê – Ảnh: VGP/Đình ThếCây cà phê tìm được phân bón đúngCà phê là một ngành hàng quan trọng, chiếm 3% GDP của cả nước với kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản trong những năm gần đây.Thương hiệu cà phê Việt Nam đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng thế giới, trong đó nổi bật là các sản phẩm của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe). Vinacafe hiện là nhà cung cấp hàng đầu của Việt Nam về cà phê nhân, chiếm 30% thị phần xuất khẩu cà phê nhân của cả nước. Để bảo đảm nguồn cung, 40 năm qua, Vinacafe đã xây dựng vùng nguyên liệu 16.000 ha tại 5 tỉnh Tây Nguyên.Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu tác động rất mạnh đến sự phát triển của cây, cũng như năng suất, chất lượng của hạt cà phê. Ông Nguyễn Văn Đại, Đội trưởng Đội 8, Công ty TNHH MTV Cà phê Ia Grai cho biết, vườn cà phê do công ty quản lý từ năm 2008 đến 2010 luôn đạt cỡ 20 tấn/ha cà phê tươi, nhưng gần đây giảm nhiều.“Hai năm gần đây, từ khi công ty sử dụng phân bón Đầu Trâu- Bình Điền, vườn cà phê phát triển đồng đều, đạt 92% so với năm 2008. Cây cà phê khỏe, lá xanh, dày, chất lượng hạt cũng rất đạt”, ông Nguyễn Văn Đại nói.Ông Đặng Hồng Tuấn, Tổng Giám đốc Tổng Công ty cà phê Việt Nam cũng nhìn nhận, hiệu quả sử dụng phân bón Đầu Trâu trên các vùng trồng của Vinacafe là rất tốt; năng suất, chất lượng cà phê tăng, được khách hàng trong và ngoài nước ghi nhận, đánh giá cao.Cũng theo ông Tuấn, chiến lược của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035 là định hướng phát triển cà phê bền vững theo tiêu chuẩn cà phê có trách nhiệm UTZ 4C, RA và AA. Hiện Vinacafe đang sản xuất trên 4.500 ha theo các tiêu chuẩn cà phê có chứng nhận với sản lượng 8.000 tấn/năm. Đây cũng là ưu thế của người tiêu dùng thế giới, đặc biệt là các thị trường lớn như EU, Mỹ, Đông Bắc Á, Hàn Quốc và Nhật Bản.“Để triển khai được chiến lược phát triển cà phê bền vững phụ thuộc rất nhiều vào các loại phân bón, trong đó cần chuyển đổi từ phân bón vô cơ sang phân bón có nguồn gốc hữu cơ nhằm giảm phát thải, giảm ô nhiễm carbon- điều mà thế giới đang rất quan tâm. Chúng tôi đã nhận thấy phân bón do Công ty Bình Điền – MeKong sản xuất rất phù hợp với nội dung chuyển đổi sang sản xuất xanh, bền vững, giảm phát thải, góp phần bảo vệ môi trường, phù hợp với chiến lược của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam”- ông Tuấn nhấn mạnh.Ông Ngô Văn Đông – Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Bình Điền – MeKong trao tặng 100 suất bảo hiểm sức khỏe toàn diện cho nông dân canh tác cà phê thuộc huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai – Ảnh: VGP/Đình ThếTrách nhiệm với ruộng vườn của doanh nghiệp sản xuất phân bónCông ty CP Phân bón Bình Điền là một doanh nghiệp sản xuất phân bón NPK hàng đầu cả nước. Sản phẩm phân bón Đầu Trâu được sản xuất với công nghệ hiện đại, luôn được cải tiến cho phù hợp với từng vùng, từng loại và từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng; được bổ sung các hoạt chất thông minh như Agrotain, Avail, Smart Zinc… giúp gia tăng hiệu quả sử dụng phân bón; đồng thời tăng khả năng chống chịu của cây trồng với điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, nhất là vào mùa khô tại Tây Nguyên. Đối với cây cà phê, công ty Bình Điền đã khởi động Chương trình Canh tác cà phê thông minh tại 5 tỉnh Tây Nguyên sau khi đã rất thành công với Chương trình Canh tác lúa thông minh tại đồng bằng sông Cửu Long.PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ, nguyên Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Công ty CP Phân bón Bình Điền, nói: “Sự hợp tác của Công ty Bình Điền – MeKong với Vinacafe nhằm mang tới cho người trồng cà phê những sản phẩm phân bón tốt nhất, phù hợp và hiệu quả nhất cho các giai đoạn sinh trưởng của cây cà phê, bảo đảm năng suất và chất lượng cà phê tốt nhất. Thông qua sự hợp tác này người được hưởng lợi nhất chính là người nông dân trồng cà phê”.Ông Ngô Văn Đông – Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, chia sẻ: “Trong 50 năm thành lập và phát triển, Bình Điền đã xác lập một hệ sinh thái về phân bón Đầu Trâu với phân khúc cụ thể về thị trường và sản phẩm, gồm Bình Điền – Ninh Bình phụ trách thị trường phía bắc; Bình Điền – Quảng Trị phụ trách thị trường Duyên hải miền Trung; Bình Điền – Lâm Đồng phụ trách Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Bình Điền-MeKong được giao nhiệm vụ sản xuất đa dạng sản phẩm, bao gồm phân bón NPK, phân bón lá, thuốc BVTV và phân bón hữu cơ. Những năm gần đây Bình Điền – MeKong đã phối hợp với Tổng Công ty Cà phê Việt Nam xây dựng được nhiều mô hình sản xuất cà phê bền vững, qua đó xác lập được giá trị của phân bón cũng như kết quả cà phê mang lại rất tốt. Chúng tôi cho rằng đây là lợi thế giúp phát triển vùng trồng bền vững của Vinacafe trong thời gian tới.”Ông Lưu Văn Nghĩa – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai đề xuất: “Cà phê Việt Nam sản lượng đứng thứ 2 thế giới nhưng chất lượng chưa tương xứng. Phải liên kết sản xuất để mở rộng vùng trồng, gia tăng giá trị sản xuất và xuất khẩu, để có thể gom được 70-80% người trồng cà phê cả nước vào chuỗi sản xuất bền vững cùng Tổng Công ty Cà phê Việt Nam. Cần cùng nhau phát triển vùng trồng và chuyển đổi số để có ngành hàng cà phê có trách nhiệm (minh bạch); phối hợp tuyên truyền, truyền thông chính sách, tạo sự đồng thuận, thực hành kiểm tra để đưa ra sản phẩm tốt nhất, chống hàng giả, hàng nhái trong cung cấp vật tư đầu vào cho sản xuất”.Cũng tại buổi lễ ký kết, Công ty CP Bình Điền – MeKong đã trao tặng 500 suất bảo hiểm sức khỏe toàn diện cho nông dân trực tiếp canh tác cà phê tại Tây Nguyên, trong đó 400 suất cho nông dân đang canh tác cà phê tại các nông trường của Vinacafe và 100 suất tặng nông dân trồng cà phê tại huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.Nguồn: Trần Đình Th – baochinhphu.vn